Friday, May 19, 2017

Công nghệ thu tinh dầu sả lần đầu ở Việt Nam của nhà khoa học 65 tuổi

Công trình thâm canh trồng sả trên vùng đất chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để thu tinh dầu phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh của tiến sĩ Lê Văn Tri (65 tuổi, Hà Nội) cùng đồng nghiệp, vừa giành giải nhất Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam 2016 (Vifotec).  

Theo Ban tổ chức, đây là lần đầu tiên Việt Nam có công trình nghiên cứu toàn diện về máy móc thiết bị, quy trình công nghệ, ứng dụng sản xuất để tạo ra mô hình khép kín liên quan đến cây sả.

Tiến sĩ Lê Văn Tri chia sẻ, trong quá trình đi thực tế, chứng kiến người dân chỉ sử dụng phần củ của cây sả chanh cho chế biến thực phẩm, còn lá thì vứt đi hoặc để khô rồi đốt, ông đã nghĩ: "Sao họ lại lãng phí thế, liệu có cách nào tận dụng lá của cây sả như làm phân bón hữu cơ hay không".

cong-nghe-thu-tinh-dau-sa-lan-dau-o-viet-nam-cua-nha-khoa-hoc-65-tuoi

Tiến sĩ Lê Văn Tri (ngoài cùng bên phải) nhận giải nhất Vifote ngày 16/5.. 

Cuối năm 2012, tiến sĩ Tri cùng đồng nghiệp bắt đầu thực hiện ý tưởng trên. Mày mò tìm hiểu không kể ngày đêm, ông phát hiện trong lá sả chứa hàm lượng tinh dầu dù không lớn nhưng rất có ích. "Phải chăng do lượng dầu ít quá mà người ta không thấy hiệu quả nên mới bỏ đi", dù nghĩ như vậy nhưng ông vẫn tìm cách thu được lượng tinh dầu đó.

Việt Nam và thế giới lúc này chỉ có công nghệ thu cất tinh dầu bằng phương pháp cuốn hơi nước, tức là cho lá vào nồi, đun lên, nước bay hơi thì tinh dầu sẽ bay theo, sau đó làm lạnh để đưa tinh dầu và nước vào bình, tinh dầu nổi lên trên sẽ được chiết tách ra.

Tuy nhiên, nhược điểm của cách làm này là thời gian chưng cất quá lâu, khoảng 6-12 tiếng, lương tinh dầu không tập trung, tốn nhiều nguyên vật liệu, nhiên liệu, quy mô chưng cất nhỏ lẻ. 

Khắc phục hạn chế trên, tiến sĩ Tri đã sử dụng công nghệ áp lực phá vỡ tế bào để chưng cất tinh dầu. Sau khi nghiên cứu xong thiết bị, ông đến phòng thí nghiệm lắp hai nồi khử trùng lại với nhau, trong đó một nồi tạo áp lực, nồi con lại chưng cất bình thường. Dùng áp lực bên này để đẩy sang chưng cất, rồi khóa van lại. Cuối cùng, áp lực đã phá vỡ các tế bào, tức là túi tinh dầu trong lá.

"Hệ thống công nghệ trên giúp giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình sản xuất xuống hơn 80%, thời gian chưng cất còn 2h mỗi mẻ, đồng thời giảm chi phí lao động, thiết bị có thể tự động hóa hoàn toàn", ông Tri nói.

Nhóm khoa học và cụm thiết bị chưng cất tinh dầu sả

Nhóm khoa học và cụm thiết bị chưng cất tinh dầu sả.

Nhờ thành công bước đầu này, ông cùng đồng nghiệp tiếp tục thiết kế thiết bị chưng cất quy mô công nghiệp, với 50-100 tấn lá xả chanh một ngày. 

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm của ông chỉ ra rằng, cây sả không chỉ thích ứng nơi hạn hán vùng đồi núi miền Bắc, mà còn chịu được trong điều kiện ngập mặn ở Tiền Giang hoặc Vĩnh Long, cho năng suất cao và mùi hương tinh dầu khá đặc biệt. Điều này rất hữu ích với nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp ở Việt Nam.

Bên cạnh sả chanh, tiến sĩ Tri nhận thấy ở Việt Nam và thế giới còn loại sả java chuyên lấy lá, thích hợp trồng vùng đồi hạn hán. Bài toán đặt ra lúc này là việc ứng dụng công nghệ trên với loại sả này liệu có phù hợp. Nhóm khoa học tiếp tục thử nghiệm và may mắn là phương pháp này hoàn toàn phù hợp để chưng cất sả java.

Để giúp đời sống bà con vùng cao cải thiện, nhóm nghiên cứu đề xuất trồng xen canh sả java với cây cao su và một số cây ăn quả. "Cây cao su thường trồng cách nhau 15 mét, chỗ đất trống nếu xen canh đậu tương hay ngô thì phải thu hoạch hằng năm, chăm sóc phức tạp, trong khi sả chịu hạn tốt, không cần chăm sóc nhiều, nó còn đuổi ruồi muỗi, rắn rết", ông Tri cho hay.

Trước thực trạng lượng lớn nguồn bã thải sau chưng cất tinh dầu tại các cơ sở hiện nay chưa được sử dụng hiệu quả, chủ yếu là đốt, rải trên mặt ruộng gây ô nhiễm môi trường, ông Tri và cộng sự đã nghiên cứu sử dụng nó làm nguyên liệu hữu cơ để sản xuất phân bón vi sinh, hạn chế sử dụng phân bón hóa học.

Phân hữu cơ vi sinh này sau đó lại sử dụng cho cây sả và các cây trồng khác, trả lại lượng dinh dưỡng lấy đi từ đất. Ngoài ra trong bã thải sau chưng cất còn tồn tại một lượng nhỏ tinh dầu, mùi thơm này có khả năng xua đuổi côn trùng hiệu quả.

Xử lý bã sả sau chưng cất làm nguyên liệu sản xuất phân HCVS

Xử lý bã sả sau chưng cất làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh.

Theo nhóm nghiên cứu, ngoài mục đích trồng sả lấy củ để tiêu thụ thị trường trong nước, tinh dầu từ lá sả phục vụ cho các ngành y học; thuốc bảo vệ thực vật; các ngành công nghiệp chế biến như sản xuất mỹ phẩm, xà phòng...

Về lợi ích kinh tế, do đầu tư cho trồng sả thấp, thời gian thu hoạch nhanh và kéo dài, khả năng chống chịu tốt nên hiệu quả từ trồng sả cao, gấp 7-8 lần so với trồng lúa. Theo tính toán của ông Tri, lợi nhuận thu được từ lá và củ trên một ha sả chanh dao động từ 90-110 triệu đồng. Trên diện tích thâm canh 20 ha trồng sả, một nhà máy sản xuất tinh dầu sẽ thu về lợi nhuận từ 1,5 - 1,6 tỷ đồng mỗi năm. 

Tổng hợp quy trình khép kín "trồng sả - thu tinh dầu - sản xuất phân bón" có thể mang lại hiệu quả kinh tế khoảng 143,6 triệu đồng/năm/ ha.

Sau cây xả, ông Tri dự định sẽ tiếp dụng thử nghiệm ứng dụng công nghệ vào sản xuất các loại tinh dầu từ cây trồng khác như hồi, quế, tràm.


Trường trăm tuổi dành cho nữ sinh áo tím ở Sài Gòn

Thứ sáu, 19/5/2017 | 00:00 GMT+7

|

Thứ sáu, 19/5/2017 | 00:00 GMT+7

Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai lúc đầu được xây dựng chỉ dành cho nữ sinh, một thời được gọi với tên Gia Long cùng hình ảnh tà áo tím đặc trưng.

Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai (quận 3) được thành lập năm 1913, là trường lâu đời thứ 2 ở Sài Gòn, chỉ sau THPT Lê Quý Đôn. Sau hai năm, trường xây dựng xong và có tên chính thức là Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường của những thiếu nữ bản xứ).

Ban đầu, trường chỉ là một dãy nhà nằm trên một khu đất rộng, cổng mở ra phía đường Điện Biên Phủ. Năm 1918, trường xây thêm dãy nhà song song với khu nhà cũ với các phòng ốc đa chức năng nhằm phục vụ cho việc giảng dạy. Đến năm 1949, trường được mở rộng thêm quy mô lớn hơn.

Khóa học đầu tiên có 42 nữ sinh thuộc những gia đình sống ở Sài Gòn và các vùng phụ cận. Dần dần, nhiều học sinh từ các tỉnh lên học nên trường bắt đầu có nội trú. Đây là trường dành cho nữ sinh đầu tiên ở Sài Gòn. Bộ áo dài tím được sử dụng làm đồng phục chính khoá nên trường còn có tên là Trường Nữ sinh Áo Tím.

Một sự kiện đáng nhớ của trường, năm 1950 hiệu trưởng người Việt đầu tiên thay thế người Pháp. Chương trình tiếng Pháp cũng được thay thế bằng chương trình giáo dục tiếng Việt.

Năm 1953, trường đổi tên thành trường nữ trung học Gia Long. Áo dài tím được thay bằng áo dài trắng với phù hiệu là bông mai vàng. Dù vậy hình ảnh áo tím vẫn đi vào ký ức nhiều thế hệ học sinh. Ngày nay, nữ sinh trường vẫn giữ cái hồn qua bộ đồng phục với chiếc váy màu tím đặc trưng.

Đến năm 1964 trường bỏ hẳn nội trú. Những dãy lầu từng được dùng làm nơi cư ngụ cho các học sinh nội trú được sửa thành lớp học.

Sau 1975, trường đào tạo nữ sinh cấp hai, cấp ba dưới tên gọi trường Nữ sinh Nguyễn Thị Minh Khai. Đến năm 1978, trường giải thể cấp hai, thu nhận cả nam sinh lẫn nữ sinh và trở thành trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai.

Ngôi trường 104 tuổi từng đi vào nhiều thơ văn gắn liền với lứa tuổi học trò. Tên trường Gia Long được nhạc sĩ Phạm Duy nhắc đến trong bài hát nổi tiếng Con đường tình ta di: "Hỡi người tình Gia Long/ Hỡi người trong tuổi sống/ Con đường này xin dâng/ Cho người bình thường… " rất phổ biến vào thập niên 70.

Ngày xưa, nữ sinh Gia Long thường lọt vào "mắt xanh" nhiều nam sinh trường Pétrus Ký (nay là Lê Hồng Phong). Nhưng khi ấy, trường Gia Long kín cổng cao tường nên cơ hội giao lưu có chăng là dịp cuối năm khi 2 trường tổ chức bán Báo xuân, văn nghệ. Nhiều mối tình trong sáng, lãng mạn giữa học sinh hai trường ra đời.

Kiến trúc trường đặc trưng cho lối Gothic phổ biến ở đầu thế kỷ 20. Bên cạnh đó, người Pháp dù xây dựng trường theo phong cách nghệ thuật phương Tây nhưng vẫn pha trộn nét văn hóa Á Đông.

Trải qua nhiều đợt tu sửa lớn nhỏ nhưng tất cả vẫn dựa trên cơ sở tôn trọng, không làm ảnh hưởng tới bất kỳ nét kiến trúc độc đáo nào của trường. Màu vàng đặc trưng, khung cửa bằng gỗ cao hay các hành lang những mái vòm cong độc đáo vẫn nguyên vẹn qua 100 năm.

Ngày nay, trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai là tổng thể hoàn thiện, tọa lạc trên một khu đất rộng hơn 23.000 m2 ngay giữa trung tâm TP HCM. Trường có quy mô 48 phòng học với đầy đủ các phòng chức năng như: hồ bơi, phòng lab, các phòng thực hành hóa, lý, phòng thể thao đa năng... Năm 2012, trường được UBND xếp hạng di tích cấp thành phố.

Quỳnh Trần

Xem thêm:

Sơn Trà - bán đảo độc nhất vô nhị Việt Nam

Là lá phổi xanh và "nhà" của khoảng 400 cá thể voọc chà vá chân nâu đặc hữu Đông Dương, bản quy hoạch mới nhất bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) gây tranh cãi khi chuyển đổi mục đích sử dụng 41% diện tích rừng.

Bán đảo Sơn Trà (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10 km về phía đông bắc. Với ba mặt giáp biển, mặt còn lại giáp đô thị, Sơn Trà là tổng hòa của hệ sinh thái rừng tự nhiên gắn liền biển duy nhất ở Việt Nam.

Bán đảo có diện tích hơn 4.400 ha, dài 13 km, chu vi khoảng 60 km, độ cao trung bình 350 m, nơi cao nhất là đỉnh Ốc gần 700 m. Cùng với đèo Hải Vân và vịnh Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà như bình phong che chắn cho thành phố Đà Nẵng.

Thời xa xưa, Sơn Trà là đảo nổi với 3 ngọn núi. Dòng nước biển chảy ven bờ theo thời gian đã mang phù sa bồi đắp 3 ngọn núi này thành doi đất chạy từ đất liền ra đảo, hình thành bán đảo. 

Rừng Sơn Trà-lá phổi xanh của Đà Nẵng. Ảnh: Lê Phước Chín

Rừng Sơn Trà có hệ động thực vật phong phú, mang đặc tính chung của rừng nhiệt đới Việt Nam. Sau nhiều năm nghiên cứu, tiến sĩ Vũ Ngọc Long, nguyên Viện trưởng Sinh thái học miền Nam, đánh giá Sơn Trà là báu vật của Đà Nẵng. Bán đảo này là hệ sinh thái khép kín, với 4 kiểu rừng phân theo độ cao từ trên xuống dưới. Ở trên là rừng mưa ẩm nhiệt đới, lưng chừng là rừng nửa khô hạn rồi đến rừng còi và đới thực vật ven biển. Phía dưới là thảm cỏ và san hô.

Cả vùng Đà Nẵng kéo dài đến Hội An (Quảng Nam) chỉ có bán đảo Sơn Trà được coi là nơi đa dạng sinh học. Đây là túi chứa nước ngọt cung cấp cho thành phố và hệ nước ngầm toàn bộ Đà Nẵng, Hội An nên có giá trị môi trường rất cao, là lá phổi xanh. "Nếu vùng này không được bảo vệ thì không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh thái mà còn tác động đến hệ san hô, hải sản ven bờ, chất lượng cát vùng biển Đà Nẵng", tiến sĩ Long nói.

"Bán đảo Sơn Trà là báu vật thiên nhiên ban tặng, cần được bảo vệ cho con cháu mai sau".

Tiến sĩ Vũ Ngọc Long

Tiến sĩ Vũ Ngọc Long nói về tầm quan trọng của bán đảo Sơn Trà.

Mùa hoa trên bán đảo Sơn Trà: Ảnh: Lê Phước Chín.

Ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch TP Đà Nẵng, người có nhiều tâm huyết bảo vệ Sơn Trà, cho biết nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy, mỗi ngày rừng ở đây tái tạo lượng oxy đủ cung cấp cho hơn 4 triệu người.

Ngoài giá trị về đa dạng sinh học, hệ nước ngầm, Sơn Trà còn đóng vai trò quan trọng trong quốc phòng. Từ bán đảo Sơn Trà có thể phóng tầm mắt quan sát toàn bộ quân cảng Vùng 3 Hải quân - nơi neo đậu tàu chiến đấu, tàu Kiểm ngư, Cảnh sát biển. Trên đỉnh Sơn Trà là hệ thống radar của quân đội và ngành hàng không với khả năng bao quát vùng trời và biển Đông.

Một góc bán đảo Sơn Trà tiếp giáp với biển. Ảnh: Lê Phước Chín

Thời chiến, Sơn Trà được mệnh danh là "mắt thần Đông Dương". Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ khi đổ bộ vào miền Nam Việt Nam đều muốn chiếm giữ cao điểm này. "Đế quốc Mỹ cho xây dựng radar trên bán đảo Sơn Trà là để bao quát vùng trời biển Đông", nhà nghiên cứu Nguyễn Đình An cho biết. 

Hiện phía Tây của bán đảo Sơn Trà là cảng hàng hóa kết hợp du lịch Tiên Sa. Đây là cảng nước sâu quan trọng nhất miền Trung, là điểm cuối của hành lang kinh tế Đông Tây xuất phát từ Myanmar, chạy qua Đông Bắc Thái Lan, Nam Lào, các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và kết thúc tại Đà Nẵng.

Cảnh sinh hoạt của voọc chà vá chân nâu. Clip: Như Mai - Phước Chín

Các nhà nghiên cứu thống kê được gần 1.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có 57 loài cho củ, quả làm thức ăn cho người và động vật ở Sơn Trà.

Bán đảo là nơi sinh sống của hàng trăm loài động vật, trong đó có 22 loài quý hiếm, nguy cấp thuộc Sách Đỏ như mèo rừng, chồn bạc má... Nổi bật nhất là quần thể linh trưởng đặc hữu Đông Dương - voọc chà vá chân nâu - đang sinh sống với số lượng 300-400 cá thể.

Tiến sĩ Vũ Ngọc Long cho biết, voọc chà vá chân nâu là nguồn gen quý hiếm. Ở Sơn Trà đang ghi nhận quần thể chà vá chân nâu lớn nhất thế giới trong tự nhiên. Loài động vật này có nhiều màu sắc nhất (5 màu) trong các loài khỉ ăn lá. Chúng được Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế tôn vinh là "nữ hoàng của các loài linh trưởng" chính nhờ vẻ đẹp khác thường.

Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) thuộc họ khỉ cựu thế giới (nhằm phân biệt với loài khỉ tân thế giới), được giới khoa học biết đến từ năm 1771, nhưng phải đến cuối thế kỷ 20 mới được kết luận là một loài riêng. Ở Sơn Trà, voọc chà vá chân nâu được tìm thấy vào năm 1969. Chúng sống theo đàn từ 5 đến 10 cá thể và chủ yếu ở độ cao 100-600 m trong rừng thường xanh nhiệt đới và rừng phục hồi.

Theo Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), voọc chà vá chân nâu đang phải đối diện nguy cơ tuyệt chủng cao ngoài tự nhiên, đứng thứ hai trong danh lục đỏ của IUCN về các loài bị đe dọa. Đã có nhiều đàn voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà bị săn bắn. Mới đây, tòa án ở Đà Nẵng đã tuyên phạt 5 bị cáo lén lút vào Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà đặt bẫy giết voọc.

Voọc chà vá chân nâu nằm trong Sách Đỏ Việt Nam. Ảnh: Như Mai.

Với những giá trị sinh học, Đà Nẵng đã chọn voọc chà vá chân nâu là hình ảnh nhận diện nhân sự kiện APEC 2017 diễn ra vào tháng 11 tới.

Diện tích rừng Sơn Trà 'nhảy múa'

Dù còn nhiều lập luận chưa thống nhất, nhưng đặc điểm chung của mỗi lần quy hoạch là rừng Sơn Trà dần bị thu hẹp.

  • 24/01/1977

    Thủ tướng ký Quyết định 41 công nhận Sơn Trà là rừng cấm quốc gia, có diện tích khoảng 4.000 ha.

  • 02/10/1992

    Bộ Lâm nghiệp đổi tên "rừng cấm" thành Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, tổng diện tích được xác định là 4.439 ha.

  • 20/09/2008

    UBND thành phố Đà Nẵng phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008-2020. Từ đây, diện tích khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà từ 4.439 ha giảm xuống còn 2.591,1 ha, gồm rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trống và đồi núi trọc.

  • 08/01/2014

    Thủ tướng ký quyết định 45 về Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến 2030, cho biết diện tích Khu dự trữ thiên nhiên Sơn Trà là 3.871ha.

  • 30/10/2014

    Thủ tướng ban hành Quyết định 1976 về Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, thì diện tích còn 2.591,1ha.

  • 09/11/2016

    Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030. Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có diện tích 1.826,5 ha trong tổng số diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 2.810,9 ha.

Diện tích rừng ở bán đảo Sơn Trà thay đổi theo hướng giảm dần, sau những lần quy hoạch. Ảnh: Lê Phước Chín.

Nói về việc số liệu quy hoạch Sơn Trà "nhảy múa", kiến trúc sư Hoàng Sừ, nguyên Viện trưởng Viện quy hoạch Đà Nẵng, Phó giám đốc Sở Xây dựng Quảng Nam, lý giải đúng ra khi lập quy hoạch số liệu phải thống nhất nhau. Tuy nhiên mỗi ngành đều tự làm quy hoạch của ngành mình, số liệu khi cập nhật lấy từ nhiều nguồn dẫn đến không trùng một con số.

Ông Sừ cho biết, việc thiếu nhất quán số liệu chắc chắn gây ảnh hưởng quyết định của các cơ quan Nhà nước khi giám sát, xử lý các vấn đề liên quan.

Trong thư khuyến nghị gửi Thủ tướng mới đây, Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng đã đề nghị Chính phủ rà soát lại toàn bộ các quy hoạch đã được phê duyệt, nhằm thống nhất con số về diện tích rừng đặc dụng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.

Nhiều loài động vật sinh sống trong rừng Sơn Trà. Ảnh: Như Mai.

Tháng 3 vừa qua, công ty Biển Tiên Sa đã bị phạt hành chính 40 triệu đồng vì xây 40 móng biệt thự không phép trong dự án nghỉ dưỡng ở Sơn Trà.

Dự án có tổng diện tích hơn 170 ha chia làm 2 giai đoạn. Đất rừng tại đây cũng đã được chuyển đổi sang đất thương mại. Tuy nhiên, dự án đã làm loang lổ một góc bán đảo Sơn Trà, khiến nhiều chuyên gia và người dân lo ngại tình trạng bê tông hóa lá phổi xanh của Đà Nẵng.

Hiện dự án phải dừng hoạt động, chờ quyết định của Thủ tướng.

Clip giới thiệu về bán đảo Sơn Trà tại lễ công bố bản Quy hoạch khu du lịch quốc gia.

Bản quy hoạch gây tranh cãi

Kiến trúc sư Hoàng Sừ cho biết, từ những năm 1998 đến 2015, dù bán đảo Sơn Trà chưa có quy hoạch chung được duyệt, nhưng Đà Nẵng đã cấp phép cho 14 dự án phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, biệt thự lớn nhỏ với tổng diện tích hơn 1.200 ha, chiếm 27,6% và gần bằng 1/3 bán đảo Sơn Trà. Đó cũng là thực trạng của Sơn Trà hiện nay.

"Đà Nẵng đã chuyển mục đích sử dụng hơn 1.800 ha rừng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà sang các loại đất khác. Việc chuyển đổi này đã khiến Sơn Trà mất đi 41% diện tích rừng. Đây là vấn đề bất cập lớn trong quản lý khu bảo tồn vì theo Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, việc chuyển mục đích sử dụng rừng trong khu bảo tồn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng", ông Sừ nói.

Theo bản Quy hoạch Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, từ 200m trở xuống sẽ phát triển các khu du lịch.

Sáng 15/2, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng công bố phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030. Theo quy hoạch, 1.056 ha rừng được chuyển đổi sang mục đích du lịch. Diện tích rừng này nằm trong hơn 1.200 ha rừng UBND TP Đà Nẵng phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng năm 2008.

Ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng tính toán, diện tích dành cho du lịch theo quy hoạch mới sẽ biến 28% diện tích rừng của Sơn Trà thành bê tông. Cộng với hơn 800ha bị chuyển mục đích sử dụng, thì rừng Sơn Trà bị mất tổng diện tích 41%.

Ông Huỳnh Tấn Vinh nói về lo ngại mất 41% diện tích rừng Sơn Trà.

Bán đảo Sơn Trà đang là điểm hấp dẫn với nhiều sản phẩm du lịch, trong đó có dù lượn. Ảnh: Nguyễn Đông.

"Nếu bán đảo Sơn Trà bị khoác lên lớp áo là những khu nghỉ dưỡng, khách sạn, resort theo bản quy hoạch thì gần một nửa màu xanh của Sơn Trà sẽ biến mất, nữ hoàng linh trưởng bị xâm hại môi trường sống nghiêm trọng, kèm theo nhiều nguy cơ về hệ sinh thái, rạn san hô", ông Vinh lo ngại.

Ngày 21/3, ông Vinh gửi tâm thư đến Thủ tướng, kiến nghị điều chỉnh quy hoạch quốc gia bán đảo Sơn Trà. Thủ tướng chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, phối hợp cùng UBND TP Đà Nẵng xem xét. Chiều 11/5, Tổng cục Du lịch làm việc với phía hiệp hội nhưng không tìm được tiếng nói chung.

Phó tổng cục trưởng Du lịch Hà Văn Siêu bảo vệ quan điểm bản quy hoạch được làm đúng quy trình và mới ban hành nên không thể sửa. Ngay hôm sau, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam có văn bản yêu cầu Bộ Văn hóa, UBND TP Đà Nẵng làm việc với phía Hiệp hội du lịch Đà Nẵng trên tinh thần "cầu thị" và "công bố rộng rãi cho công luận".

Xem xét một cách khoa học và cầu thị; kịp thời thông tin cho công luận về bản Quy hoạch Sơn Trà.

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam

Những khu chức năng phát triển du lịch theo bản Quy hoạch khu du lịch quốc gia Sơn Trà vừa được Chính phủ phê duyệt.

Trong bản Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà, Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch) cho biết bán đảo Sơn Trà là trọng điểm phát triển du lịch của Đà Nẵng, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước. Việc phát triển du lịch Sơn Trà phải gắn kết chặt chẽ với các trọng điểm phát triển du lịch của Đà Nẵng, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Hành lang kinh tế Đông Tây.

Nêu ra những tiềm năng, Tổng cục Du lịch nhận định: "Việc phát triển du lịch Sơn Trà vẫn còn chưa có định hướng dài hạn rõ ràng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế cũng như với vị trí của Sơn Trà trong vấn đề an ninh, quốc phòng của cả nước và bảo vệ môi trường của thành phố”.

Diện tích rừng Sơn Trà sẽ bị giảm đi khi những dự án du lịch được xây dựng. Ảnh: Như Mai.

Không được lấy ý kiến khi soạn thảo, đại diện Hiệp hội du lịch Đà Nẵng, ông Huỳnh Tấn Vinh cho rằng Quy hoạch tổng thể khu du lịch quốc giá Sơn Trà đã vi phạm Luật đa dạng sinh học năm 2008. Cụ thể Điều 9 quy định nghiêm cấm chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất trong các khu bảo tồn. 

Cũng theo ông Vinh, bản Quy hoạch đã vi phạm luật Đầu tư năm 2014 và vượt thẩm quyền của Quốc hội. Viện dẫn Điều 30 của luật này, ông Vinh nói nếu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50ha trở lên thì thẩm quyền quyết định là của Quốc hội. Trong khi quy hoạch mới ban hành cho phép triển khai các dự án du lịch lên đến 1.056ha.

Một số chuyên gia khác nhận định, bản Quy hoạch có tính định hướng về phát triển du lịch, chưa được triển khai trên thực tế nên nếu có điều chỉnh cũng không gây hậu quả. 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình An, nguyên Phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1986-1995), cho rằng nếu Nhà nước quyết tâm bảo vệ voọc chà vá chân nâu, bảo vệ đa dạng sinh học Sơn Trà, thì phải có nghiên cứu cụ thể trước khi làm quy hoạch. 

Môi trường sống của các loài động thực vật sẽ bị ảnh hưởng khi Sơn Trà bị bê tông hóa. Ảnh: Như Mai.

Ông An cũng gợi ý Sơn Trà chỉ nên là điểm tham quan chứ không nên xây khách sạn, khu nghỉ dưỡng. Thêm vào đó, ông cho rằng phải khống chế lượng người vãn cảnh để không phá vỡ môi trường sống, ảnh hưởng tập tính của động vật quý.

"Nếu nói dẹp vooc chà vá chân nâu để phát triển du lịch thì lại là câu chuyện khác. Còn đây là loài đặc hữu và lại nằm trong khu rừng rất gần thành phố nên rất dễ bị xâm hại bởi sự phát triển đô thị và các dịch vụ", ông An nhấn mạnh và cho rằng bản quy hoạch làm đúng quy trình nhưng nếu có bất cập thì Tổng cục Du lịch phải kiến nghị điều chỉnh.

Nguyễn Đông


Hành trình tìm bạn liệt sĩ của cựu học sinh Chu Văn An

Một sáng tháng 5, cựu học sinh lớp G trường Chu Văn An (niên khóa 1970 - 1973) tập trung tại quán cà phê trên đường Lê Hồng Phong (Ba Đình, Hà Nội) thông tin cho nhau về việc tìm kiếm hài cốt hai người bạn học là liệt sĩ Đặng Trần Cảnh và Vũ Duy Hùng. Những cựu học sinh trường Bưởi tuổi 60, tóc muối tiêu, gặp nhau vẫn thân mật gọi cậu tớ, xưng chúng mình như thời niên thiếu ngồi chung một lớp hơn 40 năm trước.

Mùa hè đằng đẵng

Lớp G khóa ấy có 84 học sinh, đều là thiếu niên Hà Nội gốc, thân thiết nhau. Đặng Trần Cảnh, Vũ Duy Hùng trong lớp là đôi bạn tính tình trái ngược. Cảnh hiền lành, thích chơi đàn, còn Hùng nghịch ngợm, chuyên đầu têu những trò nhất quỷ nhì ma của tụi con trai trong lớp.

"Tôi với Cảnh nhà ở phường Bưởi, cách nhau vài trăm mét. Hồi đó Hà Nội còn tuyến tàu điện Bờ Hồ - Bưởi qua trường, chúng tôi thường nhảy tàu điện đi học nhưng Cảnh thì không bao giờ vì nó hiền và nghiêm túc lắm", ông Nguyễn Quý Bình, bạn "nối khố" với liệt sĩ Cảnh nhớ lại.

hanh-trinh-tim-ban-liet-si-cua-cuu-hoc-sinh-chu-van-an

Liệt sĩ Vũ Duy Hùng (ảnh trái) và Đặng Trần Cảnh (ảnh phải) - cựu học sinh lớp G trường Chu Văn An, niên khóa 1970 - 1973. Ảnh: Bà Hồng Hà cung cấp.

Mùa hè 1971, chiến trường miền Nam ngày càng khốc liệt. Từng đoàn xe rầm rập từ khắp các cổng trường của Hà Nội chở theo tân binh là . Nam sinh lớp G đủ tuổi cũng tình nguyện tòng quân.

Tháng 1/1972, Vũ Duy Hùng và 4 bạn học là lứa đầu tiên lớp G nhập ngũ. Xe đưa đoàn quân tập trung ở Đại Mỗ (Nam Từ Liêm). Con gái lớp G chia nhau tiễn bạn. Xe đi rồi, cả đám còn chạy theo khóc. Tân binh Hùng huấn luyện vài tháng rồi vào thẳng chiến trường Quảng Trị.

Tháng 9 năm ấy, Đặng Trần Cảnh cũng lên đường. Chàng trai Hà Nội khéo đàn, ban đầu định thi vào Nhạc viện Hà Nội, nhưng nhà khó khăn nên xin đi học trường lái xe ở Thạch Thành (Thanh Hóa). Từ đây, anh viết đơn nhập ngũ, qua huấn luyện rồi vào chiến trường Tây Nam Bộ.

Năm1972, Hà Nội bị dội bom. Lớp 9G cùng trường sơ tán về Mỹ Đức (Hà Tây cũ). Sau Hiệp định Paris, họ trở về học tiếp với sĩ số không còn nguyên vẹn. Những học sinh còn lại vừa ôn thi đại học vừa ngóng thư từ chiến trường gửi về. Lớp G năm ấy có 6 người ra trận, đều là những chàng trai Hà Nội 17 tuổi, khôi ngô, nhiệt thành.

"Đó là mùa hè dài đằng đẵng trong quãng đời học sinh. Chúng tôi đến trường, đi học đại học, còn Cảnh, Hùng đều hy sinh khi mới 18", bà Hạ Hồng Hà, lớp phó 9G năm xưa khóc nói.

43 năm sau, lớp trưởng Bá Dũng trong buổi hội ngộ cựu học sinh 9G đầu năm 2016 khi đa số họ đã về hưu nói: "Hơn 60 năm cuộc đời phải làm một cái gì đó cho đáng, chúng mình đi tìm hai bạn học liệt sĩ đi". Cả lớp đồng tình, nhóm Tìm bạn về được lập ra, họ lên kế hoạch, kết nối cựu học sinh lớp G hai miền Nam - Bắc để hỗ trợ nhau. Trước đó vào năm 2003, họ từng có một đợt nỗ lực tìm thông tin nhưng không có kết quả.

Hành trình mông lung và bế tắc

Cuối tháng 5/2016, bà Hồng Hà cùng các bạn học Trần Tường Huấn, Trần Anh Tuấn đến hai gia đình liệt sĩ Cảnh và Hùng thắp hương xin phép đi tìm. Đầu mối duy nhất họ có là hai tờ giấy báo tử. Giấy báo của liệt sĩ Cảnh ghi vỏn vẹn thông tin chiến đấu ở "chiến trường KB", nơi chôn là "nghĩa trang chiến trường", tên còn bị ghi sai thành Đặng Xuân Cảnh. Thông tin của liệt sĩ Hùng rõ ràng hơn, có đơn vị Sư đoàn 312, hy sinh tại mặt trận Quảng Trị.

hanh-trinh-tim-ban-liet-si-cua-cuu-hoc-sinh-chu-van-an-1

Bà Hạ Hồng Hà bật khóc khi kể về những bế tắc trong hành trình đi tìm bạn học Đặng Trần Cảnh. Ảnh: Hoàng Phương

Nhóm bắt đầu tìm kiếm thông tin từ Cục Chính sách (Bộ Quốc phòng) nhưng không có kết quả. Được sự trợ giúp của tình nguyện viên Trung tâm tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho gia đình liệt sĩ, cả nhóm nhận được thông tin liệt sĩ Đặng Trần Cảnh có hồ sơ ở Quân khu 9 và hy sinh tại Trạm phẫu T (Trạm phẫu tiền phương), tỉnh Kiên Giang.

Cuộc tìm kiếm không hề suôn sẻ, có lúc họ bất lực và bế tắc vì liên tục nhận được cái nhìn nghi ngại lẫn câu trả lời không có thông tin từ nhiều cơ quan. Tình bạn và hình ảnh người mẹ già 94 tuổi của liệt sĩ Cảnh đêm đêm đọc bài văn khấn con thôi thúc họ không bỏ cuộc. Đi đến nghĩa trang nào, họ cũng thắp hương rồi chia hai nhóm: tìm bia mộ và đọc tài liệu. Các cựu học sinh sống ở miền Nam lập các đội Rạch Giá 2, Rạch Giá 3, phân công việc cụ thể để hỗ trợ cho nhóm Tìm bạn về (Rạch Giá 1).

Mang theo hy vọng đến các nghĩa trang huyện Giồng Riềng, Gò Quao (Kiên Giang), nhóm thắp hương rồi đi từng hàng mộ dò tìm tên bạn học trong số hàng nghìn ngôi mộ. Nước mắt lặng lẽ rơi khi nhìn thấy nhiều mộ ghi "Tên đồng chí gắn liền với chiến công lịch sử". Hy vọng càng mỏng manh, có đêm họ chỉ biết ngồi khóc rồi viết lên Facebook lớp. Bạn học cùng nhau cầu khấn "Cảnh ơi bạn ở đâu, chỉ chỗ cho chúng mình đưa bạn về với mẹ…".

Ngày 13/6 khi tìm đến nghĩa trang liệt sĩ huyện Gò Quao, cả nhóm lại tiếp tục thất vọng khi nhận được cái lắc đầu của người quản trang tên Trần Khả Năng. Biết họ tận Hà Nội đi tìm bạn học liệt sĩ, ông trầm ngâm rồi gọi điện thoại và giở bản đồ nghĩa trang xem liên tục. Lật tìm tập tài liệu cá nhân trên nóc tủ, ông khẳng định "70% đây rồi". Cả nhóm như điếng người khi thấy trên tờ giấy kẻ ô đã ố vàng, ở cột thứ 6 một hàng chữ mất nét "Đặng Trần Cảnh, hy sinh 23/9/1973, quê quán Bưởi, Hà Nội".

Thì ra, người quản trang từng làm việc ở Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Gò Quao. Ông vô tình có tấm sơ đồ nghĩa trang liệt sĩ ấp 6 Kim, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc do ông Tư Quắm - người chịu trách nhiệm chôn cất liệt sĩ lập ra từ năm 1973. Thời kỳ này, vùng kênh ấp 6 Kim có trạm phẫu tiền phương của Quân khu 9, đây là vùng chồng lấn, nay ta mai địch nên những ngôi mộ liệt sĩ không có bia chữ.

Năm 1983, có cuộc đại quy tập hài cốt liệt sĩ từ xã, huyện về nghĩa trang tỉnh. Do di chuyển bằng xuồng, qua nghĩa trang trung chuyển, làm thiếu khoa học nên nhiều ngôi mộ liệt sĩ có danh tính trở thành thiếu thông tin. Từ manh mối của người quản trang, nhóm bạn học có được hai tài liệu quan trọng là sơ đồ nghĩa trang liệt sĩ ấp 6 Kim và sơ đồ di chuyển từ nghĩa trang 6 Kim về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Kiên Giang.

hanh-trinh-tim-ban-liet-si-cua-cuu-hoc-sinh-chu-van-an-2

Nhóm cựu học sinh lớp G trường Chu Văn An thăm mộ liệt sĩ Đặng Trần Cảnh đã có đầy đủ thông tin trong một chuyến đi đầu năm 2017. Ảnh: Bà Hồng Hà cung cấp.

Tìm tiếp đến nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Kiên Giang, cả nhóm được ông Phan Đình Sáu, Trưởng ban quản lý cho xem sơ đồ vị trí các ngôi mộ. Trong đó, khu mộ chuyển từ nghĩa trang ấp 6 Kim về hoàn toàn trùng khớp với tờ sơ đồ do ông Năng cung cấp.

Nhận thấy khả năng mộ liệt sĩ Cảnh nằm trong lô 119 mộ chuyển từ nghĩa trang 6 Kim về, nhóm vội xin giấy xác nhận, làm đơn kiến nghị gửi Cục người có công (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) đề nghị được xin giám định mẫu ADN để xác minh danh tính liệt sĩ thiếu thông tin.

Ngày 18/6/2016, dưới sự chứng kiến của đại diện Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang, thanh tra và pháp y của Cục người có công, lô 119 mộ liệt sĩ được khai quật để lấy mẫu. So sánh với mẫu hài cốt tách chiết tại nghĩa trang, ngày 10/10/2016, kết quả giám định của Viện Pháp y quân đội kết luận "Mẫu hài cốt liệt sĩ lấy tại mộ số 1, hàng 6, khu A, ô 3 có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ với ông Đặng Trần Công, em trai liệt sĩ Đặng Trần Cảnh".

Nhận được thông tin giám định đúng là bạn, các cựu học sinh lớp G đều có cảm giác "lơ lửng" vì mừng vui. Có người đang đi đường biết tin đã dừng xe để khóc. Khi nhóm đến nhà thắp hương cho bạn, mẹ liệt sĩ Cảnh ôm họ nghẹn ngào "Mẹ mừng vì nó nằm với đồng đội, thế là ấm êm rồi". Bao nhiêu năm khi chưa biết chỗ con nằm, bà mắt kém vẫn ngày ngày soi đèn pin viết bài tụng, phòng khi trăm tuổi về trời, con cháu có khấn bà thì đọc cả đoạn khấn viết cho anh Cảnh.

Có kết quả giám định rồi, nhóm lại hướng dẫn gia đình viết đơn gửi Ban quản lý nghĩa trang tỉnh Kiên Giang để làm bia mộ đầy đủ thông tin cho liệt sĩ Cảnh.

"Tổng kết lại hành trình, chỉ có thể nói là tan tác cõi lòng vì thương bạn. Mọi thông tin đều mông lung, chỉ có sự kiên định của người đi tìm và cầu mong vào cái duyên với người đã mất", bà Hồng Hà chia sẻ.

Nhóm Tìm bạn về lớp G lại lên kế hoạch đi tìm hài cốt liệt sĩ Vũ Duy Hùng. Đầu mối mà họ có là tờ giấy báo tử ghi đơn vị C3D1E141F312, liệt sĩ hy sinh ngày 25/11/1972 ở động Ông Do (Quảng Trị). Nhiều năm nay, em trai liệt sĩ Hùng mải miết tìm hài cốt ở địa chỉ trên, đi khắp nghĩa trang Quảng Trị, Đường 9, Trường Sơn nhưng chưa có kết quả.

Người nhà kể lại năm 1972, một đồng đội cùng Sư đoàn 312 mang chiếc ba lô còn quân trang về cho gia đình, báo tin anh Hùng đã hy sinh, có nói rõ vị trí chôn cất, kèm miếng sắt ghi tên, trên đầu kê hòn đá lớn. Mẹ liệt sĩ không tin, khóc lóc dữ dội khiến người kia vội vã rời đi. Giờ, các cựu học sinh lớp G và người nhà đang tìm kiếm người đồng đội ấy để hỏi thông tin, mong tìm được liệt sĩ Hùng.

Video: Quốc phòng Việt Nam


Thursday, May 18, 2017

Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy bị 'túyt còi' khi yêu cầu công tác nhân sự

Ngày 18/5, bà Lê Thị Ái Nam - Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bạc Liêu - ký văn bản hủy bỏ công văn do Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Bạc Liêu Phạm Văn Thiều ký hôm 22/3, về việc yêu cầu các huyện ủy, thị ủy, thành ủy và đảng ủy trong tỉnh phối hợp trong công tác cán bộ.

Nội dung công văn yêu cầu các cơ quan "trước khi tiến hành quy trình điều động, đề bạt, bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử đối với các chức danh là ủy viên ban chấp hành, ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp ủy, chủ tịch, phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc… phải trao đổi trước với Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy về nhân sự, sau đó mới trình ban thường vụ cấp ủy cấp để thực hiện quy trình theo quy định".

Lý do được Ban tổ chức Tỉnh ủy Bạc Liêu đưa ra là "để thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Ban thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ, đồng thời tạo sự thống nhất cao trong công tác cán bộ…". 

Cuối công văn còn ghi "Ban tổ chức xin trao đổi và đề nghị các đồng chí phối hợp thực hiện".

Tuy nhiên, công văn này được cho là "lấn sâu" vào nhiều việc của cấp dưới. Do đó, Tỉnh ủy Bạc Liêu yêu cầu các cấp ủy trực thuộc không được thực hiện công văn của Ban tổ chức Tỉnh ủy, mà vẫn phải tiếp tục thực hiện theo các quy định do Ban tổ chức Trung ương và Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành.

Theo quy định hiện hành, cán bộ thuộc diện quy hoạch chức vụ bí thư, phó bí thư, ban thường vụ cấp huyện, thị, thành ủy thì mới hiệp y với Ban tổ chức Tỉnh ủy trước khi đề bạt, quy hoạch.

Riêng các chức vụ như quyền trưởng, phó phòng cấp huyện; chủ tịch, phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc,… các cơ quan cấp dưới sẽ tự làm quy trình, sau đó báo cáo Tỉnh ủy.

Trao đổi với VnExpress, ông Phạm Văn Thiều - Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Bạc Liêu - cho biết khi ban hành công văn ông đã không thông qua Ban thường vụ Tỉnh ủy.

"Công văn này chủ yếu là để khi hiệp y nhân sự cho gọn, không bị vướng mắc, nó chỉ mang tính chất trao đổi nhân sự trước khi làm", ông Thiều nói và cho biết ông ra công văn rất vô tư không có ý gì, không bắt buộc.

Phúc Hưng